Thứ Tư, 11 tháng 3, 2015

'Văn hoá chất lượng' yếu tố tiên quyết cho thành công của doanh nghiệp (P.2)

'Văn hoá chất lượng' yếu tố tiên quyết cho thành công của doanh nghiệp (P.2)

Việc xem chất lượng sản phẩm/dịch vụ là giá trị cốt lõi trong văn hoá doanh nghiệp là một trong những cách độc lập để nâng cao tiêu chuẩn chất lượng doanh nghiệp ngoài các phương pháp quản lý truyền thống.

Nội dung nổi bật:
- Mặc dù chất lượng thường được nhấn mạnh trong quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp nhưng lại nhanh chóng bị đánh đổi trong những khoảnh khắc mất tập trung vào những vấn đề khác của doanh nghiệp.
- Để xây dựng “văn hoá chất lượng” có tác động tốt đến người tiêu dùng doanh nghiệp nên có những nhà lãnh đạo đặt trọng tâm vào chất lượng, đảm bảo các thông điệp đáng tin cậy và có liên quan, và cuối cùng là tăng cường ý thức sở hữu và trao quyền cho nhân viên trong việc đảm bảo kết quả chất lượng.

Theo CEB, nhiều chiến lược truyền thống được sử dụng nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm như: ưu đãi tiền tệ, đào tạo, đề ra yêu cầu và mục tiêu rõ ràng hơn, chia sẻ kinh nghiệm lại có ít ảnh hưởng đến việc đạt được một nền văn hóa chất lượng.
Nghiên cứu của CEB chỉ ra rằng để xây dựng “văn hoá chất lượng” có tác động tốt đến người tiêu dùng doanh nghiệp nên có những nhà lãnh đạo đặt trọng tâm vào chất lượng, đảm bảo các thông điệp đáng tin cậy và có liên quan, và cuối cùng là tăng cường ý thức sở hữu và trao quyền cho nhân viên trong việc đảm bảo kết quả chất lượng.
Vấn đề về chất lượng sản phẩm vốn đã là vấn đề quan tâm hàng đầu của mọi doanh nghiệp, song CEB với nghiên cứu của mình đã có một cái nhìn mới mẻ và bất ngờ rằng: Mặc dù chất lượng thường được nhấn mạnh trong quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp nhưng lại nhanh chóng bị đánh đổi trong những khoảnh khắc mất tập trung vào những vấn đề khác của doanh nghiệp. Vào những lúc như vậy, các nhà lãnh đạo thường tập trung hơn vào việc thông qua "khủng hoảng" hơn là việc dành sự tập trung luôn luôn cho vấn đề chất lượng.
Trớ trêu thay, những khoảnh khắc mất tập trung lại chính là lúc các nhà lãnh đạo cần nhất để củng cố và nhấn mạnh chất lượng. Nghiên cứu của CEB cho thấy rằng trong một tổ chức mất tập trung, khả năng tập trung để làm việc của người lao động giảm, và kết quả là hơn 85% lỗi của sản phẩm sinh ra từ đây.
Trong đó, sự thay đổi trong khối lượng công việc, thay đổi về nhân sự, và thay đổi về thiết bị mà người lao động sử dụng được cho là có khả năng dẫn tới lỗi sản phẩm cao nhất. Các xáo trộn này có thể dễ dàng nhận thấy bởi các nhà lãnh dạo doanh nghiệp đồng nghĩa với việc chúng có thể được quản lý thích hợp.
Quan trọng hơn cả là doanh nghiệp phải có những nhà lãnh đạo có thể duy trì cho nhân viên của mình sự tập trung tối đa trong công việc bằng cách giảm tải công việc hoặc tạo động lực để nhân viên duy trì sự tập trung của mình. Tại một doanh nghiệp lãnh đạo duy trì được tập trung bằng cách cung cấp ưu đãi một lần để động viên nhân viên để tiếp tục tập trung vào các nhiệm vụ và hoạt động quan trọng mang lại nhiều hiệu quả về việc giảm thiểu lỗi sản phẩm, gia tăng 26% sự tập trung cho nhân viên giúp thảm thiểu 57% lỗi sản phẩm.
Mặc dù 65% các nhân viên tin rằng thông điệp lãnh đạo giải thích tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm thì chỉ có 4% tin rằng các thông điệp về chất lượng đó là tin cậy và liên quan tới họ. Một lý do cơ bản cho sự khác biệt này là ngay cả khi các nhà lãnh đạo có những ý định tốt nhất, thì những gì họ nói và những gì họ có thể làm là khác nhau, làm cho nhân viên đặt câu hỏi về độ tin cậy của các thông điệp về chất lượng sản phẩm.
Việc tìm kiếm một thông điệp kết nối với tất cả các nhân viên là thực sự khó, đặc biệt với các doanh nghiệp toàn cầu với nhiều nền văn hoá khác nhau. Kết quả là, hầu hết các nhân viên chỉ được nghe thông điệp về chất lượng sản phẩm theo một chiều, chung chung trong khi đó xây dựng “văn hoá chất lượng” lại đòi hỏi một sự tập trung và phải là thông điệp cần gây tiếng vang trong mỗi nhân viên.
Vì vậy, trước tiên các nhà lãnh đạo nên thống nhất giữa những thông điệp họ đề ra và những điều họ làm được. Đồng thời nên có những thông điệp cụ thể và riêng biệt cho từng đối tượng và từng phân đoạn khác nhau của lực lượng lao động. Điều quan trọng cuối cùng là các doanh nghiệp nên tăng cường ý thức sở hữu và trao quyền cho nhân viên trong việc đảm bảo kết quả chất lượng.
Kết luận:
Ngày nay, một lực lượng lao động chất lượng bao trùm bởi giá trị cốt lõi mang lại lợi thế cạnh tranh đáng kể cho doanh nghiệp. Trong một thế giới không ngừng thay đổi, một nền văn hóa mạnh mẽ về chất lượng sản phẩm hay dịch vụ được tạo nên bởi một lực lượng lao động năng động, hành động độc lập và ưu tiên chất lượng ngay cả trong những khoảnh khắc của áp lực nhất.
Để tạo ra một lực lượng lao động như vậy, các nhà lãnh đạo phải suy nghĩ sâu sắc việc thực hiện và duy trì một nền văn hóa của chất lượng. Một nền văn hóa thực sự của chất lượng là nơi mà trong đó nhân viên có đam mê về chất lượng như một giá trị cá nhân chứ không phải thực thi theo một mệnh lệnh cứng nhắc.
Để thực hiện nền văn hóa này, các tổ chức phải duy trì vai trò lãnh đạo đặt trọng tâm vào chất lượng sản phẩm hay dịch vụ trong thời gian tốt và xấu của doanh nghiệp, thiết lập một khuôn khổ chu đáo và đáng tin cậy, và tạo ra một môi trường nơi mà các nhân viên có những hành vi chất lượng.
Năng lực lãnh đạo là yếu tố tiên quyết để tạo nên nền văn hóa đó, đồng thời cũng là là yếu tố duy trì một doanh nghiệp hiệu quả. Khi được hỗ trợ đúng cách, một nền văn hóa của chất lượng sẽ tràn ngập tất cả các hoạt động kinh doanh trong tổ chức, tăng cường chất lượng sản phẩm dịch vụ từ đó nâng cao hình ảnh doanh nghiệp với người tiêu dùng.

'Văn hoá chất lượng': Yếu tố tiên quyết cho thành công của doanh nghiệp (P.1)

'Văn hoá chất lượng': Yếu tố tiên quyết cho thành công của doanh nghiệp (P.1)

Xây dựng “Văn hoá chất lượng” mang lại lợi ích cho doanh nghiệp về mặt chi phí, ước tính rằng một công ty với một nền văn hóa mạnh mẽ về chất lượng tiết kiệm 67 triệu USD/5.000 nhân viên.

Nội dung nổi bật:
- Một người không hài lòng với sản phẩm có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi mua hàng của nhiều người tiêu dùng tiềm năng khác, theo CEB 75% khách hàng qua hình thức thương mại điện tử quyết định mua sản phẩm qua thông tin truyền miệng bao gồm cả trên mạng xã hội.
- Việc xem chất lượng sản phẩm/dịch vụ là giá trị cốt lõi trong văn hoá doanh nghiệp là một trong những cách độc lập để nâng cao tiêu chuẩn chất lượng doanh nghiệp ngoài các phương pháp quản lý truyền thống.
- Theo thống kê của CEB nếu một doanh nghiệp xây dựng được văn hoá chất lượng sản phẩm trước tiên họ sẽ giảm được hơn 45% lỗi về chất lượng và hơn 75% lỗi sản phẩm khi đến tay khách hàng so với việc duy trì hoạt động theo truyền thống.

Thời gian vừa qua, vấn đề “con ruồi” trong sản phẩm của Doanh nghiệp Tân Hiệp Phát trở thành mối quan tâm lớn của người tiêu dùng trên cả nước, và là vấn đề truyền thông nóng hổi trên mọi phương tiện thông tin đại chúng. Phải thừa nhận rằng, truyền thông xã hội chính là một yếu tố góp phần đưa sự kiện này lên cao trào của sự chú ý.
Bài viết này không đề cập đến vấn đề của Doanh nghiệp Tân Hiệp Phát, song đây lại là một minh chứng rõ nét nhất cho “Văn hoá chất lượng” của sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp, một khái niệm mới – và là khái niệm cần thiết cho thành công của mọi doanh nghiệp được đưa ra bởi tổ chức CEB (Corporate Executive Board)
Cùng với sự phát triển của truyền thông xã hội, các doanh nghiệp ngày nay dễ dàng mắc phải “virus phản ứng” của người tiêu dùng. Các phương tiện công nghệ và truyền thông ngày càng trao quyền cho người tiêu dùng phản ánh sự hài lòng hay không hài lòng về sản phẩm của họ, theo CEB “26% người tiêu dùng cho biết họ đã sử dụng phương tiện truyền thông xã hội để thể hiện sự bất bình về dịch vụ hay sản phẩm mà họ không hài lòng” bên cạnh đó, hình thức phản ánh chất lượng sản phẩm hay dịch vụ nội bộ với doanh nghiệp qua đường dây nóng gần như không còn được người tiêu dùng ưu tiên sử dụng.
Một người không hài lòng với sản phẩm có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi mua hàng của nhiều người tiêu dùng tiềm năng khác, theo CEB 75% khách hàng qua hình thức thương mại điện tử quyết định mua sản phẩm qua thông tin truyền miệng bao gồm cả trên mạng xã hội.
Điều đó có nghĩa là hầu hết các công ty đang hoạt động trong một môi trường mà qua đó việc sai sót về chất lượng sản phẩm hay dịch vụ ngày càng trở nền trầm trọng. Từ đó, giải quyết vấn đề sai sót của sản phẩm hay dịch vụ sẽ dẫn đến lợi thế cạnh tranh đáng kể cho doanh nghiệp. Nghiên cứu của ECB cho thấy hình ảnh chất lượng mạnh mẽ của sản phẩm có mối tương quan đáng kể với quyết định mua hàng của người tiêu dùng. Vì vậy mọi doanh nghiệp cần thay đổi quy trình hiện tại để đáp ứng mong đợi mới của thị trường.
Giá trị của “chất lượng hình ảnh” ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh
Thói quen mua hàng của khách hàng thương mại điện tử bởi thương hiệu yếu và mạnh thống kê bởi 3000 người tiêu dùng (ECB)
Việc xem chất lượng sản phẩm/dịch vụ là giá trị cốt lõi trong văn hoá doanh nghiệp là một trong những cách độc lập để nâng cao tiêu chuẩn chất lượng doanh nghiệp ngoài các phương pháp quản lý truyền thống. Trong hai năm, CEB đã khảo sát rộng rãi hơn 63.000 nhân viên tại hơn 60 tập đoàn đa quốc gia và các ngành khác nhau để tìm ra phương pháp làm thế nào có thể tạo ra một nền “văn hóa chất lượng”. “Văn hóa chất lượng” được tạo nên bởi các hành vi có chất lượng của lực lượng lao động, từng bước thông qua, và cuối cùng trở thành một phần của quy trình vận hành tiêu chuẩn và trở thành chính sách của doanh nghiệp.
Trong một nền văn hóa chất lượng thật sự, các thành viên trong doanh nghiệp hành động để cải thiện chất lượng sản phẩm hay dịch vụ bởi vì chính bản thân họ nhìn thấy nó là một vấn đề quan trọng và cốt lõi.
Trong các doanh nghiệp đó,  nhân viên luôn nghe thấy những đồng nghiệp và quản lý của mình trao đổi về chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ, cảm thấy chất lượng của sản phẩm là tất cả, nhìn thấy và nhận thấy mọi thành viên làm việc vì chất lượng sản phẩm, tập trung và truyền đạt những hành vi có lợi cho chất lượng sản phẩm đến những người khác.
Theo thống kê của CEB nếu một doanh nghiệp xây dựng được văn hoá chất lượng sản phẩm trước tiên họ sẽ giảm được hơn 45% lỗi về chất lượng và hơn 75% lỗi sản phẩm khi đến tay khách hàng so với việc duy trì hoạt động theo truyền thống.
Bên cạnh đó, xây dựng “Văn hoá chất lượng” cho doanh nghiệp mang lại lợi ích cho doanh nghiệp về mặt chi phí, ước tính rằng một công ty với một nền văn hóa mạnh mẽ về chất lượng tiết kiệm 67 triệu USD/5.000 nhân viên.
Tuy nhiên, nghiên cứu của CEB cũng chỉ ra rằng, khoảng 60% nhân viên được khảo sát đang làm việc trong những doanh nghiệp không hiểu rõ về “văn hoá chất lượng”. Vì vậy cải thiện hoạt động của doanh nghiệp theo tiêu chí đặt “văn hoá chất lượng” sản phẩm hay dịch vụ làm yếu tố cốt lõi là vấn đề đáng được quan tâm.
“Văn hoá chất lượng” yếu tố tiên quyết cho thành công của doanh nghiệp (P.2):  Làm thế nào để xây dựng “Văn hoá chất lượng”?

Thứ Hai, 9 tháng 3, 2015

7 cách hiệu quả để trở thành một nhà lãnh đạo thành công

Nếu như bạn đang là một lãnh đạo và mong muốn khả năng lãnh đạo của bạn tốt hơn thì đây là một vài lời khuyên để làm theo. Nếu bạn đang phấn đấu để trở thành một nhà lãnh đạo thành công thì những lời khuyên dưới đây lại càng trở nên hữu ích.
1.  Lắng nghe
Lắng nghe và biết cách lắng nghe là kỹ năng vô cùng cần thiết và quan trọng. Có khi ta phải mất cả đời để học cách lắng nghe.
Bằng cách này, bạn sẽ thúc đẩy cấp dưới của mình chia sẻ những ý tưởng của bản thân họ. Nhân viên của bạn sẽ cảm thấy họ có giá trị và được khích lệ để nỗ lực hơn rất nhiều. Họ sẽ có thêm động lực để làm việc và nâng cao hiệu quả công việc, và bạn thì có thêm nhiều ý tưởng sáng tạo. Nếu những ý tưởng đó thật sự khả thi hãy chắc chắn rằng bạn sử dụng chúng.
 Nếu muốn trở thành một nhà lãnh đạo thành công hãy cho nhân viên biết  họ có thể tự do đến và trao đổi với bạn bất kỳ lúc nào.
2. Gần gũi và hòa đồng
Thông thường, một nhà lãnh đạo ngồi trong văn phòng cả ngày và hiếm khi có thời gian để nói chuyện và lắng nghe các thành viên trong tập thể của họ.
Nếu bạn muốn trở thành một nhà lãnh đạo thành công, cho nhóm của bạn biết rằng họ có thể tự do đến và trao đổi với bạn bất kỳ lúc nào trong ngày làm việc. Cho dù đó là một câu hỏi về công việc của họ, chia sẻ những ý tưởng mới, các vấn đề tại nơi làm việc hoặc các vấn đề cá nhân.
Hãy cố gắng lắng nghe và giúp đỡ họ nếu có thể. Bạn không cần phải trở thành người bạn tốt nhất của họ và không nhất thiết phải nghe những tin đồn, nhưng được tiếp cận nhiều hơn sẽ giúp bạn trở thành một nhà lãnh đạo tốt hơn.
3. Tìm một hình mẫu tuyệt vời
Mỗi người có một phong cách sống khác nhau và mỗi người lãnh đạo lại có những cách quản lý riêng. Tuy nhiên, bạn nên có một hình mẫu lý tưởng để phấn đấu và học theo cách mà nhà lãnh đạo đó đã đối phó với những khó khăn, thử thách cũng như cách mà họ đã thúc đẩy nhóm của họ.
Để trở thành một nhà lãnh đạo thành công không chỉ cần đến phẩm chất mà còn cần cả kỹ năng. Hãy chắc chắn là hình mẫu bạn chọn là người bạn có thể trò chuyện và xin ý kiến khi bạn gặp vấn đề.
4. Khen thưởng thành viên trong nhóm của bạn khi họ hoàn thành tốt công việc
Không khó để nói những lời ngợi khen như “Anh/chị làm tốt lắm”. Nếu thành viên trong nhóm của bạn hoàn thành tốt một việc nào đó, đừng quên khích lệ họ. Đó có thể chỉ là một email thân thiện, một cái vỗ nhẹ vào lưng, hay một cái bắt tay tình cảm. Làm như vậy, cấp dưới của bạn sẽ cảm thấy họ đang được đánh giá cao và sẽ không ngừng phấn đấu hơn nữa.
Nếu thành viên trong nhóm hoàn thành tốt công việc, đừng quên khích lệ họ. 
5. Đừng mập mờ
Hãy nhớ rằng bạn là một nhà lãnh đạo và bạn nên luôn luôn rõ ràng, đặc biệt là khi bạn cung cấp thông tin về nhiệm vụ, công việc mới. Hãy lên danh sách công việc từng tuần, nêu rõ công việc cần phải hoàn thành và thời gian khi nào. Nhân viên của bạn sẽ nắm rõ công việc được giao, có thời gian tập trung thực hiện và ít phải đặt câu hỏi hơn. Điều này cũng sẽ giúp ngăn ngừa rất nhiều hiểu lầm.
6. Hài hước, tạo cảm giác thoải mái
Thậm chí nếu bạn là một nhà lãnh đạo tốt, vẫn sẽ luôn có những ngày thật khó khăn. Đừng quá nghiêm trọng khi có điều gì đó sai trái. Điều quan trọng là làm thế nào để nó không tái diễn.
Thay vì chỉ trích, trách phạt hay nhắc đi nhắc lại lỗi lầm đó hàng ngày, hàng tuần nhân viên của bạn sẽ cảm thấy bớt căng thẳng hơn nếu bạn đề cập đến nó một cách hài hước. Và chắc chắn họ sẽ chú ý để hoàn thành công việc tốt nhất có thể.
Duy trì sự hài hước, tạo cảm giác thoải mái cho mọi người trong nhóm là không dễ dàng, nhưng nó thực sự quan trọng với bất kỳ một nhà lãnh đạo muốn thành công nào.
7. Luôn tích cực
Nếu bạn có một thái độ tiêu cực về tất cả mọi thứ, bạn sẽ không bao giờ trở thành một nhà lãnh đạo thành công. Tích cực là chìa khóa để giải quyết mọi vấn đề và nó sẽ giúp bạn thúc đẩy nhóm của bạn làm việc tốt hơn và họ sẽ không cảm thấy bức bách trong công việc.
Thái độ tích cực trong công việc và cuộc sống cũng giúp bạn thấy yêu công việc, yêu cuộc sống, muốn cống hiến, sống có ích và hoàn thiện mình hơn.

Lời khuyên hữu ích của ông “vua thép” Andrew Carnegie

Lời khuyên hữu ích của ông “vua thép” Andrew Carnegie

“Hãy ngấu nghiến trong việc học và chắc chắn rằng những người khác cũng được lợi từ tài sản trí tuệ và tiền bạc của bạn.” Carnegie.

Nội dung nổi bật:
- Andrew Carnegie là một doanh nhân người Mỹ gốc Scotland và được nhiều người biết đến với biệt danh “Ông Vua Thép.”
- Theo tạp chí tài chính Forbes thì tới năm 2007 tài sản của ông là 298,3 tỷ USD. Vì thế, Carnegie được coi là người giàu thứ 2 trong lịch sử, xếp sau John D. Rockefeller.
- Sau khi bán công trình thép cho J.P. Morgan, ông dành phần đời còn lại của mình để tập trung vào các hoạt động công tác xã hội.
- Tiêu biểu là tài trợ cho thư viện, hòa bình thế giới, giáo dục và nghiên cứu khoa học.

Andrew Carnegie được sinh ra tại thị trấn Dunfermline, Scotland và di trú tới Hoa Kỳ năm 1858. Từ những công việc đầu tiên là công nhân sản xuất ống chỉ, thợ thông nhà xí tới nhân viên điện báo và đường sắt Pittsburgh. Cuồi cùng ông mở ra công ty thép Carnegie, sau đó sát nhập vào vài công ty nhỏ khác để trở thành U.S Steel. Đây là một trong những công ty thép lớn nhất thế giới với lợi nhuận cao nhất trong nền kinh tế công nghiệp.
Là người bác ái và hảo tâm, Carnegie đã tài trợ rất nhiều cho thư viện sách sau khi bán công trình thép của mình. Theo tạp chí tài chính Forbes thì tới năm 2007 tài sản của ông là 298,3 tỷ USD. Vì thế, Carnegie được coi là người giàu thứ 2 trong lịch sử, xếp sau John D. Rockefeller.
Cũng giống Benjamin Franklin, ông cho rằng những người lãnh đạo là người đọc nhiều sách và rằng của cải được tạo từ kiến thức sâu rộng với tư duy tốt. Carnegie không được đi học đến nơi tới chốn, nhưng với niềm yêu thích đọc sách đã mang lại những kiến thức vô giá và tạo ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp thành công của ông.
Sau đây là những lời khuyên hữu ích của ông “vua ngành thép” Andrew Carnegie:
Đầu tư vào bản thân
Carnegie không thích việc đầu cơ trong thị trường tài chính. Ông nghĩ rằng một sự đầu tư tốt hơn là chọn một nghành nghề, học mọi thứ về nó và đầu tư cho việc kinh doanh của chính bạn.
Ông tin rằng con đường đúng đắn để đạt được thành công xuất sắc ở bất kể ngành nào là trở thành người thông thạo trong ngành đó. Carnegie không tin vào việc phân tán năng lượng cho quá nhiều thứ bởi nó khiến bạn mất tập trung. Sức mạnh của sự tập trung chỉ đến khi bạn hy sinh những thứ bạn có thể kiếm nhờ sự trải rộng để đạt một thị trường nhỏ hơn nhưng được xác định rõ ràng.
Thành công đến từ sự cởi mở và đối xử tốt với mọi người
Cũng như những gương thành công to lớn khác, Carnegie trước đây là một sinh viên học về bản tính con người. Biết rằng chuyển năng lượng một cách hiệu quả vào lực lượng lao động sẽ mang lại thành công. Cho nên, ông luôn tạo ra những mối quan hệ tốt với các nhân viên của mình và thường thưởng cho nhân viên thứ mà họ muốn trong chừng mực hợp lý.
Carnegie đã giúp nhiều nhân viên của ông trở nên giàu có. Ví dụ điển hình là ông trả cho giám đốc nhà máy Charles Schwab một triệu đô la một năm. Số tiền lớn này không phải trả cho chuyên môn kỹ thuật của Charles mà cho khả năng động viên, thúc đẩy nhân viên tuyệt vời của Charles Schwab.
Hãy kiểm soát tâm trạng của bạn
“Một tâm trạng vui vẻ đáng giá hơn cả gia tài. Người trẻ nên biết rằng tính tình có thể được trao dồi. Và tinh thần cũng như thân thể có thể chuyển từ bóng tối ra ánh sáng.”  Câu nói trên của Carnegie đã tóm lược hàng trăm sách về tự giúp bản thân và bí quyết thành công. Cho nên, việc kiểm soát tâm trạng nên được xem là bước khởi đầu để vươn tới đỉnh cao sự nghiệp của mỗi người.
Nói trước công chúng thật ra chỉ là nói
Carnegie có hai nguyên tắc khi nói trước đám đông:
  1. Nói với người ta, chứ không phải nói về họ.
  2. Hãy là chính bạn, đừng cố gắng trở thành một “người diễn thuyết”.
Ghi nhớ lời khuyên này của Carnegie và bạn sẽ không cần phải theo một lớp học nói đắt tiền nào. Cần phải bổ sung rằng để là chính bạn. Bạn phải bỏ thời gian để tìm hiểu bạn là ai và bạn đang đại diện cho điều gì. Diễn thuyết là nói ra một từ như cách bạn muốn nó như vậy. Nói chuyện cần xuất phát từ trái tim và luôn luôn thành thật.
Đặt kiến thức và giá trị lên trên tiền bạc
Vào một buổi tối năm 1868 lúc ông được 33 tuổi. Carnegie viết một ghi nhớ cho bản thân mình khi đang ở khách sạn St. Nicholas ở New York. Ông bắt đầu cuốn ghi nhớ rằng “ba mươi tuổi và thu nhập 50.000 USD một năm” và nói rằng ông có thể tổ chức công việc kinh doanh để có thể kiếm được cùng số tiền đó mỗi năm. Trong khi đó, ông sẽ dành số tiền dư ra cho các mục đích từ thiện.
Suy nghĩ sâu xa hơn, Carnegie có ý định nghỉ hưu lúc 35 tuổi và từ đó trỏ đi sẽ dành thời gian đọc sách và nghiên cứu. Dĩ nhiên ông đã không làm như vậy, nhưng qua việc này chúng ta thấy mầm mống của lòng bác ái của ông. Carnegie nói rằng kiến thức có được từ việc đọc và nghiên cứu biểu trưng cho một giá trị thực. Một cuộc sống tốt là phải thực sự rộng mở đầu óc. Chỉ có tiền bạc thì không có giá trị gì.
Đi du lịch để mở mang kiến thức
Carnegie rất thích đi du lịch, đặc biệt khi có một chút phiêu lưu và thôi thúc người khác quan sát thế giới nhiều hơn. Trong từng chuyến đi, ông cố gắng tìm hiểu về văn hóa từng vùng ông đi qua. Chẳng hạn khi đến Trung Quốc ông đọc về Khổng Tử và đến Ấn Độ ông tìm hiểu về Phật Gíao. Sự tôn trọng dành cho các tôn giáo là đặc trưng cho sự cởi mở tiếp thu của Carnegie. Đi thăm những vùng đất mới sẽ giúp con người đánh giá tốt hơn về cái tổng thể

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

5 lợi ích của thất bại

5 lợi ích của thất bại

Thua cuộc, bị từ chối, bị bác bỏ là những trạng thái tồi tệ chẳng ai muốn trải qua trong đời. Tuy nhiên, nó là những “cánh cổng” mà bất kỳ ai cũng phải bước qua trên đường tìm kiếm vinh quang.

Đừng để thất bại nghiền nát bạn. Thất bại là một phần của thành công nên chẳng lạ gì khi nó mang lại nhiều lợi ích, chẳng hạn như:
1. Là động lực để ta chứng tỏ bản thân
Nam tài tử Harrison Ford khi mới khởi nghiệp diễn viên đã bị một đạo diễn đánh giá là “không có tố chất gì để nổi tiếng” và chỉ nhận được những vai quần chúng nhỏ trong phim. Có giai đoạn ông buộc phải chuyển sang làm thợ mộc để kiếm tiền nuôi gia đình nhưng vẫn thường xuyên đến các buổi casting diễn viên.
Sự kiên trì cộng với một chút may mắn, ông giành được vai chính trong Star War 1977, và trở thành một trong những nam diễn viên được yêu mến nhất cho đến hôm nay.
2. Khiến ta thêm sáng tạo
Năm 1919, Walt Disney xin được một chân vẽ biếm họa cho tờ báo Kansas City Star nhưng sau đó bị sa thải vì theo biên tập viên quản lý thì ông “thiếu sự tưởng tượng và chẳng có ý tưởng gì mới mẻ”. Đoạn kết của câu chuyện, chắc chắn mọi người đã biết.
3. Khiến ta làm việc chăm chỉ hơn
Michael Jordan, ngôi sao bóng rổ Mỹ từng tâm sự: “Việc không vào được đội Varsity khiến tôi phải nỗ lực nhiều hơn nữa ở mỗi trận đấu. Thất bại cũng dạy tôi rằng, nếu tôi đặt ra mục tiêu và phấn đấu hết mình vì nó, tôi sẽ được trả công xứng đáng”.
4. Giúp ta hiểu rõ bản thân
Đôi khi bạn không biết mình có những khả năng gì cho đến khi thất bại. Vera Wang từng rất thất vọng khi không vào được đội tuyển Olympic trượt băng nghệ thuật của Mỹ. Sau đó, bà đành chuyển sang làm biên tập viên thời trang, rồi nhanh chóng được thăng chức vượt cấp, trở thành tổng biên tập và sau đó, bắt đầu sự nghiệp thiết kế áo cưới ở tuổi 40.
5. Mở rộng hiểu biết, tăng thêm kinh nghiệm
Thời trẻ, Henry Ford nổi danh trong ngành kinh doanh ô tô vì những thất bại liên tiếp. Nhưng rốt cuộc ông cũng tìm được một đối tác tin tưởng vào mình, và Ford đã chứng tỏ ông học được những kiến thức quý giá từ những sai lầm của mình khi Ford Motor mãi mãi thay đổi ngành công nghiệp ô tô nói riêng và công nghiệp tự động hóa nói chung với dây chuyền sản xuất của mình.

Thứ Hai, 9 tháng 2, 2015

Động lực làm giàu của 'ông vua' dầu mỏ John D. Rockefeller

Một yếu tố rất “người” cho động lực thúc đẩy John Rockefeller đến với thành công là khao khát cảm thấy mình quan trọng.

Động lực làm giàu của 'ông vua' dầu mỏ John D. Rockefeller
Nội dung nổi bật:
- John Rockefeller được mệnh danh là người giàu nhất trong những người giàu nhất, với khối tài sản ước tính 663 tỷ USD vào năm 2007.
- Bên cạnh đó, ông cũng được nhiều người kính nể bởi khát khao cũng như động lực làm giàu của mình.
- Sự khao khát cảm thấy mình quan trọng trong công việc là động lực làm giàu chính yếu của John D. Rockefeller. Và chính hành trình và cuộc đời của ông sẽ cho chúng ta thấy điều đó.

John Rockefeller là một nhà công nghiệp người Mỹ, người đóng góp vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp dầu mỏ thời sơ khai. Ông đã sáng lập công ty Standard Oil. Một công ty lớn nhất và có lợi nhuận cao nhất thế giới.
Ông được mệnh danh là người giàu nhất trong những người giàu nhất.Tài sản của ông tương đương vào khoảng 663 tỷ đô la vào năm 2007 theo cách tính của Forbes.
Sự nghiệp kinh doanh của ông được nhiều người kính nể và khâm phục bởi tài làm giàu nhanh chóng. Bên cạnh đó, ông cũng làm mọi người khiếp sợ về tham vọng cũng như động lực làm giàu của mình. Bởi vì thời điểm Rockefeller trở thành tỷ phú thì khắp nước Mỹ mới chỉ có vài người nắm trong tay vài triệu đô la.
Vì vậy, để có thể biết được động lực và khát khao làm giàu của Rockefeller, chúng ta sẽ bắt đầu từ hành trình vươn tới đỉnh cao của con người xuất chúng này.
Từ khi còn là một cậu bé, Rockefeller đã thể hiện tài năng kiếm tiền thiên bẩm của mình. Một hôm, ông phát hiện ra một con gà mái rừng đang đi tìm chổ yên tĩnh làm tổ. Cho nên, mẹ ông bảo ông đi bắt con gà đó mang về nhà nuôi.
Ông mất hai ngày nhưng không có kết quả. Nhưng giống như nhiều gương thành công khác, Rockefeller có cái thiên tài kiên tâm. Một sự kiên tâm sắt đá không gì lay chuyển được. Ông không chịu bỏ cuộc, tiếp tục rình con gà, theo dõi nó hoài và hai ngày sau ông bắt được cả mẹ lẫn con.
Lần nuôi gà đó là công việc làm ăn đầu tiên của Rockefeller. Ông bán được gà và có tiền. Nhưng số tiền đó ông để dành và không tiêu pha chúng.
Đến năm mười một tuổi, do gia cảnh gặp khó khăn, nên ông phải đi làm mướn cho một chủ trại láng giềng. Chủ trả lương, ông tiếp tục tiết kiệm chúng cho tới khi có được một số vốn kha khá. Rồi ông đem trọn số vốn đó cho chủ vay lấy lời.
Lúc đó, ông nhận thấy rằng tiền lời từ vốn mỗi năm đem lại một món tiền bằng mười ngày làm công vất vả. Thế là ông giải quyết được vấn đề. Rockefeller quyết định sẽ bắt đồng tiền làm nô lệ cho mình.
Sau này, khi đến tuổi trưởng thành Rockefeller làm nhiều việc để kiếm sống. Từ việc bán hàng cho đến kế toán trong công ty và cuối cùng dừng lại ở công việc dầu mỏ. Dù là việc gì, có kiếm được nhiều tiền hay không thì chàng thanh niên Rockefeller cũng sống rất giản dị.
Trái hẳn với nhiều người nghĩ, dầu mỏ làm cho Rockefeller giàu có. Thật ra, Rockefeller là cái máy làm ra tiền dù cho công việc đó là gì đi chăng nữa. Nhưng dầu lửa mỏ cho ông những thị trường rộng lớn hơn.
Ông cùng hai người bạn lập ra hãng lọc dầu Standard Oil. Xí nghiệp phát triển, ông luôn đập lời vào vốn. Ông mở rộng quy mô và hạn chế bớt sự cạnh tranh bằng cách dùng số vốn mà mình tiết kiệm được, lần lượt mua hết các hãng lọc dầu khác.
Khi đã thành tỷ phú, Rockefeller vẫn luôn làm việc rất hăng say và sống như một tiểu tư sản lương thiện trong một gia đình khá giả kiểu mẫu. Thói quen của ông có thay đổi, mức sống của ông có tăng lên. Nhưng Rockefeller vẫn giữ được sự giản dị trong đời sống và chi tiêu tiết kiệm.
Cuối cùng, ông đã dành 40 năm cuối cuộc đời tập trung vào việc làm từ thiện, liên quan chủ yếu đến giáo dục và sức khỏe cộng đồng.Rockefeller đã dùng hết tài sản của mình cho các hoạt động xã hội này.
Như vậy, động lực làm giàu của Rockefeller có phải để cống hiến cho nhân loại? Điều này đúng nhưng chỉ là một phần. Ông tìm thấy mình trong công việc. Không có người nào thành công mà không yêu công việc họ đang làm.
Chính sự khao khát cảm thấy mình quan trọng trong công việc là động lực làm giàu mạnh mẽ của John D. Rockefeller. Và chính động lực và sự khát kha ấy đã giúp ông kiếm được hàng tỷ đô la mà hầu như ông chẳng cần dùng đến một đồng trong số đó là để cho cá nhân mình.

Bí quyết để CEO Yahoo làm ra 500 triệu USD ở tuổi 39

Ở tuổi 39, Marissa Mayer đang là CEO của một công ty trị giá 40 tỉ USD. Về tài sản cá nhân, cô đang sở hữu khối tài sản khoảng 500 triệu USD. 300 triệu USD tại Google và 200 triệu USD tại Yahoo. Điều gì giúp Marissa gặt hái thành công trong sự nghiệp nhanh đến vậy?

Bí quyết để CEO Yahoo làm ra 500 triệu USD ở tuổi 39
Trong cuốn sách “Marissa Mayer và cuộc chiến bảo vệ Yahoo” có đáp án cho câu trả lời này. Đó là câu chuyện về cuộc đời của Mayer, cũng như cách cô đã gây dựng khối tài sản khổng lồ và danh tiếng toàn cầu tại Google.
Dưới đây là 5 bài học mà chúng ta có thể tiếp thu từ Mayer:
1. Lựa chọn cơ hội “đáng sợ” nhất
Khi Mayer tốt nghiệp tại Stanford, cô có vô vàn lựa chọn cho sự nghiệp của mình. Cô có thể trở thành một nhà tư vấn được trả lương cao. Cô có thể trở thành chuyên gia tại Carnegie Mellon. Hoặc, cô có thể tham gia một startup nhỏ bé với một cái tên nghe khá “buồn cười”. Tuy nhiên, khi phỏng vấn vào startup này, Mayer đã kinh ngạc khi có quá nhiều những người tài giỏi ở đây. Tham gia vào một startup chưa nhìn thấy tương lai, đồng thời phải làm việc với những người quá tài giỏi, đối với cá nhân Mayer, sẽ là sự lựa chọn mạo hiểm nhất cho sự nghiệp của cô. Mặc dù vậy, cô đã lựa chọn tham gia vào tổ chức này. Và Mayer đã trở thành 1 trong số 25 nhân viên đâu tiền của Google.
2. Nhận ra điểm yếu của bản thân
Mayer được Google tuyển vào để làm lập trình viên. Dự án lớn đầu tiên của cô đó là xây dựng hệ thống quảng cáo cho Google. Mayer đã làm việc với dự án này từ tháng này qua tháng khác, cho tới khi Google thuê một chuyên gia lập trình từ DEC, Jeff Dean. Dean đã xây dựng hệ thống mà Mayer cố gắng thức hiện chỉ trong vài tuần. Mayer, người quyết định sẽ làm việc vì tình yêu với Google, nhận ra rằng cô sẽ không làm việc như một lập trình viên nữa. Cô cần tìm cho mình một con đường khác.
3. Nhận ra những vấn đề của công ty và xử lý chúng
Sau khi Mayer nhận ra mình không thể làm một tình viên, cô quyết định phải trở nên hữu dụng bằng cách tham gia vào bất kỳ vấn đề nào Google cần và giải quyết chúng. Mayer đã tham gia công việc tiếp thị, PR, hay thậm chí cả các vấn đề với máy chủ. Cuối cùng, Mayer nhận ra 3 lĩnh vực mà cô có thể hỗ trợ Google. Đó là tổ chức các cuộc họp nhân sự cao cấp với CEO Larry Pages, trở thành người kiểm tra chất lượng sản phẩm xem đã đạt “chuẩn Google” chưa, và cuối cùng, cô là người chạy dự án quản lý sản phẩm tại Google – chương trình đào tạo cho sinh viên có kỹ năng công nghệ cao các kỹ năng quản lý. Những người tham gia chương trình này, được gọi là những APM, sau đó sẽ tham gia vào mọi bộ phận của Google. Thông qua những APM, Mayer đã gây dựng tầm ảnh hưởng và uy tín rất lớn tại công ty, bởi tất cả phải báo cáo công việc hàng ngày cho quản lý của mình và Mayer.
4. Đừng quá lo lắng về việc “giẫm lên chân người khác”.
Khi cố gắng tham gia vào giải quyết mọi vấn đề, Mayer đôi khi “đá” phải lĩnh vực của người khác. Thông thường, những người này sẽ rất khó chịu vì bị Mayer “giẫm lên chân”. Tuy nhiên, Mayer chẳng quan tâm đến điều này. Quan trọng hơn, những nhà quản lý của Google cũng không quan tâm. Họ chỉ cảm thấy vui vì Mayer đã giải quyết được rất nhiều những vấn đề tại Google khi nó mới chỉ là một startup nhỏ. Tất nhiên, làm vậy khiến Mayer có vài “kẻ thù” tại Google, nhưng cô cũng đã kịp làm ra hàng trăm triệu USD và biến mình trở thành một ngôi sao trong giới kinh doanh.
5. Biết khi nào nên nói lời từ biệt.
Những “kẻ thù” của Mayer tại Google đã phát triển mạnh mẽ, đủ để đẩy cô sang một bên. Mayer có thể tức giận và bỏ việc tại công ty nhưng cô đã không làm vậy. Thay vào đó, cô tiếp tục hoàn thành tốt công việc tại Google với một vị tri thấp hơn. Chẳng hạn, cô đã chỉ đạo nhóm phát triển ứng dụng Google Maps cho iPhone. Mayer không vội vàng ngồi vào chiếc ghế CEO của Yahoo. Khi CEO cũ của Yahoo, Carol Bartz bị đuổi việc vào năm 2011, một người bạn của Mayer nói cô có thể ngồi vào vị trí đó. Tuy nhiên, Mayer cho rằng hội đồng quản trị của Yahoo lúc đó quá thiếu tin cậy. Vài tháng sau, khi Hội đồng quản trị này bị đuổi đi gần hết dưới sự tác động của nhà đầu tư Dan Loeb, Mayer mới bắt đầu cảm thấy hứng thú với Yahoo. Cô nhanh chóng ký một hợp đồng trị giá 200 triệu USD sau đó.